Quyen-03


LƯƠNG HOÀNG SÁM QUYỂN 03
 



TỪ BI ÐẠO TRÀNG
SÁM PHÁP
Hiệu Chính: HT. THÍCH TRÍ TỊNH
Dịch Giả: HT. THÍCH VIÊN GIÁC
QUYỂN THỨ BA
— ----—
QUYỂN 03


CHƯƠNG THỨ BẢY
NÓI RÕ QUẢ BÁO
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng trước đã thuật rõ tội báo
của ác nghiệp. Vì hoạn lụy của ác báo chỗ
nên trái với nghiệp thù thắng tốt đẹp. Vì
ác nghiệp nên phải đọa trong ba đường
dữ trải khắp ác thú và sinh ra ở nhân gian
để chịu trả quả báo đau khổ. Quả báo đau
khổ như thế đều do nhân duyên túc đối
đời trước đem lại. Bây giờ xả thân này
chịu thân khác để chịu trả quả báo mãi
mãi không thôi.
Bởi thế chư Phật và chư Đại Bồ Tát
dùng sức thần thông thiên nhãn, thấy hết
thảy chúng sanh trong ba cõi khi hết
phước rồi, cứ theo nghiệp báo mà đọa vào
các chỗ khổ. Thấy chúng sanh từ cõi trời
Vô sắc giới, do tâm đắm trước thiền định,
hoặc vậy mạng chung, hết phước đọa
xuống cõi trời Dục giới. Vì hết phước nên
cũng có khi đọa làm cầm thú. Những
chúng sanh ở cõi trời Sắc giới, khi hết
phước cũng phải sa đọa như vậy. Từ chỗ
thanh tịnh đọa xuống Dục giới là chỗ
không thanh tịnh vì ở chỗ không thanh
tịnh nên trở lại thọ lấy dục lạc. Chúng
sanh ở sáu cõi trời Dục giới khi hết phước
đọa xuống địa ngục chịu vô lượng khổ.
Chư Phật và Bồ Tát lại thấy chúng
sanh ở trong nhân đạo, nhờ sức tu thập
thiện được sinh làm người. Ngay trong
thân người cũng có lắm khổ, khi mạng
chung phần nhiều lại đọa vào các đường
ác.
Lại thấy chúng sanh trong đường
súc sanh chịu lắm khổ não, bị đánh đập
xua đuổi chở nặng, đi xa, đau đớn khốn
khổ, trầy vai trợt cổ, sắt nóng thiêu thân.
Lại thấy chúng sanh trong đường
ngạ qủy thường bị đói khát khổ sở, bị lửa
thiêu thân như ở thời mạt kiếp. Nếu
không nhờ một mảy căn lành để cứu vớt
thì vĩnh kiếp không thể giải thoát. Nếu có
được chút phước thì được sinh lên làm
người, nhưng thân hình ốm yếu, nhiều
tật bệnh và sống yểu chết non.
Vậy đại chúng nên biết thiện ác như
hai bánh xe theo nhau, chưa từng tạm
nghỉ, thì quả báo cũng do đó mà liên tiếp
không thôi, xoay vần như sợi dây xích
chuyền nối mãi mãi.
Sang hèn giàu nghèo đều tùy hạnh
nghiệp của mỗi người mà chịu trả quả
báo.
Không phải sang hèn như vậy mà
không có nguyên nhân, không lẽ vô cớ
mà có quả báo sang hèn như vậy, thì rất
phi lý.
Trong Kinh Phật dạy rằng:
- Làm người giàu sang, quốc vương,
trưởng giả là do cái nhân đời trước lễ bái
phụng sự Tam Bảo mà ra.
- Làm người giàu có to lớn là do cái
nhân đời trước bố thí mà ra.
- Làm người sống lâu là do cái nhân
đời trước không sát sanh mà ra.
- Làm người đoan chánh là do cái
nhân đời trước nhẫn nhục mà ra.
- Làm người siêng tu là do cái nhân
đời trước không biếng nhác mà ra.
- Làm người có tài ba sáng suốt, hiểu
rộng thấy xa là do cái nhân đời trước tu
trí huệ mà ra.
- Làm người có âm thanh trong trẻo
là do cái nhân đời trước ca vịnh tán thán
Tam Bảo mà ra.
- Làm người sạch sẽ không tật bệnh
là do cái nhân đời trước từ tâm mà ra.
- Làm người thân hình cao lớn tốt
đẹp là do cái nhân đời trước kính nhường
người mà ra.
- Làm người thân hình thấp hèn nhỏ
bé là do cái nhân đời trước khinh khi
người mà ra.
- Làm người thân hình xấu xa là do
cái nhân đời trước hay giận hờn mà ra.
- Làm người vô tri, không hiểu biết
gì hết là do cái nhân đời trước không học
hỏi mà ra.
- Làm người ngu xuẩn đần độn là do
cái nhân đời trước không dạy bảo người
mà ra.
- Làm người câm ngọng là do cái
nhân đời trước hay hủy báng người mà ra.
- Làm người hay bị kẻ khác sai khiến
là do cái nhân đời trước mắc nợ người
không trả mà ta.
- Làm người da đen xấu xí là do cái
nhân đời trước che ánh sáng quang minh
của Phật mà ra.
- Làm người sinh vào nước lõa hình
là do cái nhân đời trước ăn mặc quần áo
mỏng manh, suồng sã, cho mình là Hơn
người mà ra.
- Làm người sinh vào nước móng
ngựa là do cái nhân đời trước đi giầy dép
tưởng mình là hơn người, giành đi trước
mà ra.
- Làm người sinh vào nước xuyên
ngực là do cái nhân đời trước bố thí làm
phước, rồi sinh tâm hối hận tiếc của mà
ra.
- Làm người sinh trong loài hươu nai
là do cái nhân đời trước dọa nạt người,
làm người khiếp sợ mà ra.
- Làm người sinh trong loài rồng là
do cái nhân đời trước ưa giỡn cợt múa
nhảy mà ra.
- Làm người thân hình sinh lở ghẻ
dữ là do cái nhân đời trước ưa đánh đập
chúng sanh mà ra.
- Làm người được người thấy mình
liền sinh tâm hoan hỷ là do cái nhân đời
trước mình thấy người cũng sinh tâm
hoan hỷ.
- Làm người hay bị quan bắt giam
cầm là do cái nhân đời trước hay bắt giam
cầm chúng sanh trong lồng trong chậu
mà ra.
- Làm người ngồi nghe thuyết pháp
mà nói chuyện làm loạn động tâm người
khác, sau sẽ đọa trong loài chó trập tai.
- Làm người ngồi nghe thuyết pháp
mà không để ý nghe cho hiểu sau sẽ đọa
trong loài lừa dài tai.
- Làm người tham ăn một mình, keo
rít, bỏn xẻn, sau sẽ đọa loài quỷ đói. Hết
kiếp quỷ đói sinh ra làm người bần cùng
đói khát.
- Làm người đem đồ ăn dở cho kẻ
khác, sau sinh làm heo lợn, loài bọ hung.
- Làm người hay cướp giựt của kẻ
khác, sau đọa làm dê, bị kẻ khác lột da ăn
thịt.
- Làm người ưa trộm cướp của kẻ
khác, sau đọa làm trâu ngựa, bị người sai
khiến.
- Làm người ưa nói vọng ngữ, tuyên
truyền điều xấu của kẻ khác, sau đọa địa
ngục, bị quỷ sứ rót nước đồng sôi vào
miệng, kéo dài lưỡi ra cho trâu cày. Tội
hết rồi, người ấy sinh làm chim cù dục,
chim cú, người nghe tiếng nó kêu, ai cũng
sợ hãi, cho là yêu quái, đều nguyền rủa
cho nó chết.
- Làm người ưa uống rượu say, sau
đọa vào địa ngục phất xí (nước phẩn sôi
trào). Tội hết rồi người ấy sinh vào loài
tinh tinh. Hết nghiệp tinh tinh, được sinh
làm người, ngoan độn, ngu si, không ai
đếm xỉa đến.
- Làm người tham lường sức mạnh
của kẻ khác, sau sẽ đọa làm voi.
Than ôi! Ở địa vị giàu sang, làm
người trên trước mà đánh đập kẻ dưới. Kẻ
dưới không biết thưa kiện với ai. Những
người như thế, chết vào địa ngục, kể cả
ngàn vạn năm, chịu quả báo đau khổ.
Từ địa ngục ra, lại đọa làm trâu, bị
xâu xỏ mũi miệng dắt thuyền kéo xe, roi
gậy to lớn đánh đập khổ sở, để đền lại nợ
oan trái ngày xưa.
Lại nữa, người ăn ở dơ bẩn là từ
trong loài heo mà đầu thai ra.
Người xan tham keo kiết, không tự
xét mình là từ trong loài chó mà đầu thai
ra.
Những người gầm gừ, tự dụng một
mình là từ trong loài dê mà ra.
Người có tánh táo bạo, nóng nảy,
không hay nhẫn nhục là từ trong loài khỉ,
vượn, hầu mà đầu thai ra.
Người có thân hình tanh hôi là từ
trong loài cá trạnh mà đầu thai ra.
Người có tâm thâm hiểm, độc ác là
từ trong loài rắn độc mà đầu thai ra.
Người không có từ tâm, tàn nhẫn,
báo hại, là từ trong loài hổ báo, sài lang
mà đầu thai ra.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng, đã sinh ra làm người
trong thế gian bị nhiều bệnh, chết sớm,
biết bao thống khổ không thể kể xiết,
như thế là do ba nghiệp gây ra, nên khiến
người “tu hành” phải mắc lấy quả báo
trong ba đường dữ.
Sở dĩ có ba đường dữ là vì có tham
sân si. Vả lại cũng vì có ba độc tham sân
si ấy mà người tự thiêu đốt lấy mình,
miệng thường nói ác, tâm thường nghĩ ác,
thân thường làm ác.
Do các điều ác ấy làm cho thân
người thường chịu các khổ não, không
cùng tận.
Đến khi mạng chung, hồn côi bơ vơ.
Mình làm mình chịu, cha mẹ vợ con
không thể cứu được.
Thoạt vậy trong nháy mắt, đến chốn
Diêm vương, ngưu đầu, ngục tốt ở trong
địa ngục không kể tôn ty, chỉ xét sổ tội
phước, kiểm điểm nặng nhẹ, thiện ác
nhiều ít, trong lúc sinh tiền đã làm thế
nào thì thần thức tự thú tội, không dám
che giấu. Do vì nhân duyên ấy nên phải
theo nghiệp mà chịu trả quả báo, đến chỗ
khổ hay vui là do mình làm mình chịu,
mờ mờ mịt mịt ly biệt lâu dài, đường ai
nấy đi, không bao giờ gặp nhau trở lại.
Vả lại các vị thiên thần ghi chép
thiện ác của người không thiếu sót mảy
may. Người thiện làm lành được phước
thêm tuổi, người ác làm dữ, giảm thọ
thêm khổ. Cứ xoay vần như vậy, mãi mãi
rồi lại đọa làm quỷ đói. Hết kiếp quỷ đói,
thoát ra làm súc sinh. Tội khổ vô lượng
không thể chịu nổi, không bao giờ cùng.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng đều nên phải tự tỉnh ngộ
mà sinh tâm hổ thẹn.
Trong kinh Phật dạy rằng: “Làm lành
gặp lành, làm dữ gặp dữ”. Nhưng trong
đời ngũ trược ác thế, chúng ta không nên
làm ác; làm lành không mất quả lành, làm
ác tự rước lấy tai họa.
Chớ cho khinh thoát lập ra pháp sám
này.
Kinh dạy rằng: “Chớ khinh điều
thiện nhỏ cho là không phước, giọt nước
tuy nhỏ, chảy lâu cũng đầy bát to”.
Không chứa thiện nhỏ lấy gì có
phước to để thành Thánh thành Phật, chớ
khinh ác nhỏ mà nói là không có tội. Ác
nhỏ chứa lại lâu ngày cũng đủ mất thân.
Đại chúng nên biết: Lành dữ họa
phước đều do tâm tạo. Nếu không tạo
nhân thì không có kết quả. “Ương họa
chứa lại, tội thành to lớn”. Chúng ta mắt
thịt không thể thấy. Đó là lời Phật dạy ai
dám không tin.
Chúng con đã cùng nhau vô phước,
sinh vào đời mạt pháp, nếu không siêng
năng học tập tu hành, không tự sức mình
làm lành đến phút cuối cùng, tắt thở, khi
ấy ăn năn đã muộn. Tuy vậy bây giờ đã
cùng nhau thấy biết hết thảy tội lỗi như
trong kinh Đức Phật đã dạy: Người đã
biết tội mình há lại không biết bỏ ác theo
lành hay sao!”
Đời nay nếu không dụng tâm xả thân
cầu đạo quyết phải đọa địa ngục. Vì sao
mà biết?
Vì trong lúc làm tội ôm lòng độc ác,
mạnh mẽ nóng nảy, giận hờn, gắt gao, sâu
sắc. Như giận một người nào quyết muốn
cho người ấy chết. Nếu ghét một người
nào, không ưa thấy điều tốt của người ấy.
Nếu hủy báng một người nào, quyết
khiến cho người ấy lâm cảnh vào cảnh
khổ. Nếu đánh một người nào, quyết
khiến cho người ấy đau đớn thấu trời
thấu đất.
Khi giận hờn tàn bạo tai hại thì
không kể tôn ty thượng hạ, dùng lời xấu
hổ, mắng nhiếc đủ điều; có khi la vang
như sấm dậy, mắt như lửa đổ. Còn khi
làm phước thì thiện tâm rất yếu ớt. Lúc
đầu muốn làm nhiều, sau lần lần giảm ít
lại.
Lúc đầu muốn kinh doanh cho mau
chóng, sau lại thả lỏng buông trôi.
Tâm đã không chí quyết ngày tháng
trôi qua, lần lượt tới lui cho đến khi quên
mất việc thiện là xong. Xét như thế thì
biết lúc làm tội tâm lực rất mãnh liệt
cường thạnh; lúc làm phước thì chí ý bạc
nhược yếu hèn.
Nay đem cái nhân làm phước yếu
hèn ấy mà cầu xa lìa quả báo làm ác mãnh
liệt cương cường kia thì không thể được.
Kinh dạy rằng: “Sám hối thì tội gì
cũng tiêu diệt hết”.
Nhưng than ôi! Đến lúc sám hối,
quyết phải đầu thành đảnh lễ, năm vóc
sát đất như núi Thái Sơn sụp đổ, không
tiếc thân mạng mới mong diệt được tội.
Vì diệt được tội nên phải ân cần,
thành khẩn cùng nhau xét mình từ khi
sinh ra cho đến ngày nay đã gây ra bao
nhiêu tội lỗi. Phải tự xét trách như thế
mới không tiếc thân mạng, chịu khó nhọc
mà sám hối.
Nếu tạm thời nhiễu Phật liền sinh
tâm mỏi mệt, chán nản, tạm thời lễ bái
liền nói sức lực không kham; hoặc tạm
thời ngồi ngay tỉnh niệm, liền nói nên
phải có tin tức chứng ngộ gì. Hoặc nói
không nên làm cho thân thể quá mỏi mệt,
phải cần dưỡng, không được làm khổ
thân.
Vừa nằm xuống ngủ liền mê man
như chết, không bao giờ tưởng nhớ đến
việc ta phải lễ Phật, quét tháp, quét chùa
làm những việc khó làm.
Vả chăng, kinh có dạy rõ ràng: “Chưa
từng có một mảy may thiện nào từ sự giải
đãi lười biếng mà sinh ra; chưa từng có
một chút phước nào từ sự kiêu mạn, tự
do tự đắc mà được”.
Đệ tử chúng con tên... nay tuy được
làm thân người, nhưng tâm hay trái đạo,
vì sao mà biết? Vì từ sớm đến trưa, từ
trưa đến chiều, từ chiều đến tối, từ tối
đến sáng. Cho đến không có một thời giờ
một khắc, một niệm, một khoảnh nào mà
chúng con để tâm nhớ tưởng Tam Bảo,
nghĩ nhớ lý Tứ đế, cũng không có một
chút tâm nào nghĩ nhớ báo ơn cha mẹ,
không có một chút tâm nào nghĩ nhớ báo
ơn Sư trưởng; không có một chút tâm nào
muốn bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
không có một chút tâm nào muốn học
thiền định, muốn tu trí huệ.
Nay thử đem kiểm điểm lại các pháp
thanh bạch thì chúng con không có một
pháp nào đáng kể.
Trái lại những phiền não trọng
chướng thì không biết bao nhiêu mà kể,
đầy tai đầy mắt.
Nếu không kiểm soát như thế thì
chúng con cũng tự hào rằng: Công đức
của chúng con rất nhiều. Nếu có làm
được chút việc thiện gì thì nói ta hay làm
người khác không hay làm; ta hay tu
người khác không hay tu; ý chí cao ngạo,
xem như mục hạ vô nhân, quanh mình
không còn ai nữa.
Xét lại mà nghĩ, thật là đáng xấu hổ.
Nay đối trước đại chúng, chúng con
xin sám hối các tội lỗi ấy, mong đại chúng
hoan hỷ bố thí cho, tương lai không còn
chướng ngại nữa.
Đại chúng cũng nên tự rửa sạch thân
tâm. Theo sự trình bày quả báo như trước
đã thuật đủ thì không thể tự khoan dung
mà không cầu xả bỏ tội lỗi.
Đại chúng chớ nói ta không có các
tội ấy, ta đã vô tội, cần gì sám hối. Nếu
đại chúng có nghĩ như thế, nguyện xin từ
bỏ ngay tâm niệm ấy đi. Phải chăng bao
nhiêu lầm lỗi vi tế đã kết thành tội lớn
đại.
Thoạt vậy giận hờn, sân tâm liền
khởi, tập thành tánh quen, khó có thể sửa
đổi mau chóng, không thể buông tâm
phóng ý mà không ngăn ngừa.
Nếu hay đè nén nhẫn nhịn thì phiền
não có thể trừ. Người nào giải đãi lười
biếng, buông lung thì không thể tế độ
được.
Đệ tử chúng con tên... ngày nay
mong nhờ sức từ bi hộ niệm của chư
Phật, chư đại Bồ Tát, sức bổn thệ nguyện
lực mà nói kinh: “TỘI NGHIỆP, BÁO ỨNG,
ĐỊA NGỤC” nên chúng con hết lòng lắng
nghe.
Ta nghe đức A Nan thuật lại như thế
này: “Một hôm Phật ở tại thành Vương xá,
trong núi Kỳ Xà Quật, cùng với chư Đại
Bồ Tát Ma ha tát, các vị Thanh Văn và
quyến thuộc của các ngài đông đủ; cũng
có các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc,
Ưu bà di, chư thiên, quỷ thần, thảy đều
đến dự hội đông đủ”.
Lúc bấy giờ có ngài Tín Tướng Bồ Tát
bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Hôm nay có đủ
chúng sanh ở các đường địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh, sang, hèn, giàu, nghèo
không biết bao nhiêu chủng loại... Phàm
có chúng sanh nào nghe được Phật
thuyết pháp thì cũng như con thơ gặp
mẹ, như bệnh gặp thuốc, như lạnh có áo,
như tối có đèn. Thế Tôn thuyết pháp lợi
ích cho chúng sanh cũng như thế”.
Lúc bấy giờ Phật thấy thời cơ đã đến;
biết các vị Bồ Tát khuyến mời Phật
thuyết pháp rất ân cần, Phật liền phóng
đạo hào quang trắng giữa hai chân mày,
soi khắp mười phương vô lượng thế giới,
địa ngục không còn, thống khổ cũng hết.
Lúc bấy giờ, hết thảy chúng sanh
đang chịu tội, tìm ánh sáng quang minh
của Phật mà tới; nhiễu quanh Phật bảy
vòng, nhất tâm lạy Phật khuyến mời Phật
thuyết pháp, rộng giáo hóa chúng sanh,
khiến chúng sanh mong nhờ nghe pháp
mà được giải thoát.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng cũng nên chí thành
khuyến mời chư Phật thuyết pháp như
vậy; nguyện cho chúng sanh đều được
giải thoát.
Chúng con cùng nhau chí tâm, một
lòng tha thiết, đảnh lễ Thế Tôn, năm vóc
sát đất như núi Thái Sơn sụp đổ mà
khuyến thỉnh mười phương tận hư không
giới hết thảy chư Phật thuyết pháp.
Nguyện Phật đem sức từ bi, cứu các khổ
não cho chúng sanh được an vui.
Lại xin khuyến thỉnh quy y Thế gian
Đại Từ Bi Phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Phạm Thiên Phật.
Nam mô Bất Thối Chuyển Luân
Thành Thủ Phật.
Nam mô Đại Hưng Quang Vương
Phật.
Nam mô Pháp Chủng Tôn Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Đăng Minh
Phật.
Nam mô Tu Di Phật.
Nam mô Đại Tu Di Phật.
Nam mô Siêu Xuất Tu Di Phật.
Nam mô Dụ Như Tu Di Phật.
Nam mô Hương Tượng Phật.
Nam mô Vi Nhiễu Hương Huân Phật.
Nam mô Tịnh Quang Phật.
Nam mô Pháp Tối Phật.
Nam mô Hương Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Đại Tập Phật.
Nam mô Hương Quang Minh Phật.
Nam mô Hỏa Quang Minh Phật.
Nam mô Vô Lượng Quang Minh
Phật.
Nam mô Sư Tử Du Hí Bố Tát.
Nam mô Sư Tử Phấn Tấn Bồ Tát.
Nam mô Kiên Dõng Tinh Tấn Bồ Tát.
Nam mô Kim Cang Huệ Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật Đà.
Nam mô Đạt Mạ.
Nam mô Tăng Già.
Lại quy y như vậy mười phương tận
hư không giới hết thảy Tam Bảo. Nguyện
xin Tam Bảo cứu hộ hết thảy chúng sanh,
diệt trừ hết thảy khổ não, khiến các
chúng sanh liền được giải thoát, bỏ ác
theo lành, không làm ác nữa; từ nay trở đi
không còn đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh nữa; thân khẩu ý đều thanh tịnh;
không nghĩ đến việc ác của người; xa lìa
các nghiệp chướng; được các nghiệp
thanh tịnh; hết thảy tà ma không thể lay
chuyển; thường tu bốn món vô lượng
tâm; tinh tiến dõng mãnh, trồng các căn
lành vô lượng vô biên; xả thân này thọ
thân khác đều được thường sinh nơi
phước địa; nhớ ba đường khổ, phát tâm
Bồ đề tu đạo Bồ Tát không thôi không
dứt. Lục độ tứ đẳng thường được hiện
tiền. Tam minh lục thông, thường được
như ý tự tại. Ra vào cảnh giới của chư
Phật chơi giỡn tự do cùng các vị Bồ Tát
thành bậc Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nên sinh tâm sợ hãi, sinh
tâm từ bi nhất tâm nhất ý, lắng lòng mà
nghe và suy nghĩ cho kỹ.
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn phóng đạo
bạch hào tướng quang ở giữa hai chân
mày soi sáng khắp hết thảy chúng sanh
trong sáu đường. Khi ấy ngài Tín Tướng
Bồ Tát vì thương xót hết thảy chúng
sanh, liền từ tòa ngồi đứng dậy đến trước
Phật quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Nay có chúng
sanh bị các ngục tốt cắt chặt bằm chém
thân thể từ đầu đến chân. Chúng sanh ấy
bị chặt và chết ngất thì có gió xảo phong
thổi sống lại. Sống rồi lại bị chặt, chịu
khổ báo như thế vô cùng vô tận không
bao giờ ngừng là vì tội gì vậy?”
Phật bảo: “Những chúng sanh ấy ở
các đời trước không tin Tam Bảo, không
biết cúng dường, bất hiếu với cha mẹ,
sinh tâm ác nghịch; làm nghề hàng thịt,
cắt chặt chúng sanh, vì các nhân duyên
ấy nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh, thân thể sần
sượng tê cứng cả người, mày râu rụng
hết, toàn thân bầm đỏ, bạn với chim
muông, vắng vẻ bóng người, bà con xa bỏ,
không ai muốn thấy. Ác báo như thế là
bệnh phong hủi. Vì nhân duyên gì mà
mắc Phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước người ấy
không tin Tam Bảo, bất hiếu với cha mẹ,
phá tháp hủy chùa, bóc lột của người tu
hành, chém bắn Thánh Hiền, tổn thương
Sư trưởng, chưa từng biết quấy; vong ơn
bội nghĩa, hành động như cẩu khuyển
(chó) làm xấu người trên, không kể thân
sơ, không biết hổ thẹn, vì nhân duyên ấy
nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh thân hình dài
lớn, tai điếc, chân không có, quằn quại bò
lết mà đi, chỉ ăn đất cát mà sống; bị các
sâu trùng nhỏ nhiệm cắn rức; ngày đêm
chịu khổ vô cùng không gián đoạn; vì
nhân duyên gì mắc phải tội ấy?
Phật dạy: “Vì đời trước làm người chỉ
biết có mình, không tin lời hay, lời lành
của kẻ khác. Bất hiếu với cha mẹ, trái ý
phản nghịch, hoặc làm địa chủ hay làm
quan to, trấn nhậm bốn phương, hoặc làm
châu trưởng, quận trưởng cai trị đốc suất
dân chúng mà cậy oai ỷ thế, xâm đoạt của
người cách vô lý, không đạo đức, làm cho
dân chúng cùng khổ. Vì nhân duyên ấy
nên mắc phải tội như vậy.”
- Lại có chúng sanh đui cả hai mắt,
không thấy biết gì, hoặc bị cây đè, hoặc sa
hầm hố mà chết, chết rồi sống lại, sống
lại rồi chết, cứ như thế mãi. Vì nhân
duyên gì, mắc phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước không tin tội
phước, che ánh sáng của Phật, may bít
mắt người, giam nhốt chúng sanh, lấy bao
lấy đãy bao đầu chúng sanh, không cho
trông thấy. Vì nhân duyên ấy nên mắc
phải tội như vậy”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời kinh dạy như
vậy rất đáng sợ hãi.
Chúng con cũng có thể đã làm
những tội như thế. Nhưng vì vô minh che
lấp tâm tánh nên không tự nhớ biết đó
mà thôi.
Những tội như vậy vô lượng vô biên
đến đời sau sẽ chịu khổ báo.
Ngày nay chí tâm, một lòng tha
thiết, đầu thành đảnh lễ, năm vóc sát đất
như núi Thái Sơn sụp đổ, cầu xin sám hối,
hổ thẹn ăn năn, cải đổi tâm tánh. Những
tội đã làm rồi, nhờ sám hối mà trừ diệt.
Những tội chưa làm, từ nay thanh tịnh.
Nguyện xin quy y hết thảy mười phương
chư Phật:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Khai Quang Minh Phật.
Nam mô Nguyệt Đăng Quang Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh
Phật.
Nam mô Hỏa Quang Minh Phật.
Nam mô Tập Âm Phật.
Nam mô Tối Oai Nghi Phật.
Nam mô Quang Minh Tôn Phật.
Nam mô Liên Hoa Quân Phật.
Nam mô Liên Hoa Hưởng Phật.
Nam mô Đa Bảo Phật.
Nam mô Sư Tử Hống Phật.
Nam mô Sư Tử Âm Vương Phật.
Nam mô Tinh Tấn Quân Phật.
Nam mô Kim Cang Dõng Dược Phật.
Nam mô Độ Nhất Thế Thuyền Tuyệt
Chúng Nghi Phật.
Nam mô Bảo Đại Thị Tùng Phật.
Nam mô Vô Ưu Phật.
Nam mô Địa Lực Trì Dõng Phật.
Nam mô Tối Dõng Dược Phật.
Nam mô Sư Tử Tác Bồ Tát.
Nam mô Khí Ấm Cái Bồ Tát.
Nam mô Tịch Căn Bồ Tát.
Nam mô Thường Bất Ly Thế Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật Đà.
Nam mô Đạt Mạ.
Nam mô Tăng Già.
Lại quy y như vậy mười phương tận
hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện
xin Tam Bảo rũ lòng đại từ đại bi, gia hộ
cứu vớt khiến các chúng sanh liền được
giải thoát. Vì các chúng sanh mà diệt trừ
những nghiệp địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh, khiến các chúng sanh rốt ráo không
chịu các quả báo dữ nữa, khiến các chúng
sanh bỏ khổ trong ba đường ác, đồng đến
chỗ trí huệ, đều được yên ổn, hoàn toàn
an vui.
Nguyện xin Tam Bảo đem ánh sáng
đại quang minh, diệt trừ mê mờ rất si ám
cho chúng sanh; phân biệt rộng rãi, giải
thích rõ ràng pháp môn vi diệu, thậm
thâm nhiệm mầu cho chúng sanh nghe,
khiến chúng sanh đều được chứng quả Vô
thượng Bồ đề, thành bậc Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng lại nên chí thành nhất
tâm mà nghe, suy nghĩ cho kỹ.
Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Lại có chúng sanh
ngọng lịu ấm á, miệng không thể nói, dầu
có nói cũng không rõ ràng. Vì nhân
duyên gì, mắc phải tội ấy?”
Phật đáp: “Vì đời trước người ấy phỉ
báng Tam Bảo, khinh hủy Thánh đạo, bàn
luận việc xấu tốt của người, tìm việc hay
dở của người, vu oan cho kẻ lương thiện,
ghen ghét người hiền. Vì nhân duyên ấy,
nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh bụng lớn như
trống, cổ nhỏ như kim, không thể ăn
nuốt được. Nếu có đồ ăn, đồ ăn biến
thành máu mủ. Vì nhân duyên gì mắc
phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước, người ấy
trộm cắp đồ ăn của chúng. Khi có đại hội,
sắm các thức ăn ngon, người ấy riêng lấy
mà ăn, hoặc lấy mè muối, gạo cơm ra chỗ
khuất mà ăn. Lại thêm keo rít, tiếc của
mình, tham của người, thường ôm lòng
độc ác, cho người uống thuốc độc, nghẹt
thở không thông. Vì nhân duyên ấy nên
mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh thường bị ngục
tốt thiêu đốt, dội nước sắt nóng vào thân,
đóng đinh sắt vào thân, đóng rồi tự nhiên
hỏa bốc thiêu cháy thân thể thảy đều
phỏng đỏ. Vì nhân duyên gì mắc phải tội
ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước làm thầy
châm lễ, tổn thương Thân thể của người.
Châm chích không lành, gạt người lấy
của, làm cho người đau khổ. Vì nhân
duyên ấy nên mắc phải tội như vậy”.
Lại có chúng sanh thường ở trong
cái vạc (cái chảo nấu) nước sôi, ngưu đầu
ngục tốt, tay cầm xoa sắt, móc bỏ vào vạc
nấu chín rục, rồi thổi cho sống lại. Sống
lại rồi nấu nữa. Vì nhân duyên gì nên mắc
phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước người ấy làm
nghề hàng thịt, giết chúng sanh, trụng
nước sôi, nhổ sạch lông, giết hại rất
nhiều không thể kể xiết. Vì nhân duyên
ác nghiệp ấy nên mắc phải tội như vậy”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời kinh dạy như
vậy rất đáng sợ hãi.
Chúng con không biết ở trong đường
ác nào đã từng làm vô lượng tội nghiệp
như thế. Đời sau quyết phải mắc quả báo
ác nghiệt ấy. Ngay trong đời hiện tại
chúng con cũng có thể mắc phải quả báo
ác nghiệt ấy. Ấp úng, ngọng lịu, miệng
không thể nói, hoặc bụng lớn cổ nhỏ,
không thể ăn nuốt, mạng sống vô thường.
Ngày nay tuy an vui, ngày mai thế nào
không thể biết được. Thình lình gặp phải
quả báo đến, không thể thoát được.
Mọi người đều nên hiểu rõ ý ấy, nhất
tâm chánh niệm, chớ tư tưởng gì nữa, chỉ
một lòng tha thiết, năm vóc sát đất, đầu
thành đảnh lễ, nguyện vì hết thảy chúng
sanh ở khắp trong bốn loài sáu đường,
ngày nay đang chịu khổ, đã chịu khổ, hay
sẽ chịu khổ mà quy y Thế gian Đại Từ Bi
phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Tự Tại Vương Phật.
Nam mô Vô Lượng Âm Phật.
Nam mô Định Quang Minh Phật.
Nam mô Bảo Quang Minh Phật.
Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Phật.
Nam mô Diệu Bảo Phật.
Nam mô Đế Tràng Phật.
Nam mô Phạm Tràng Phật.
Nam mô A Di Đà Phật.
Nam mô Thù Thắng Phật.
Nam mô Tập Âm Phật.
Nam mô Kim Cang Bộ Tinh Tấn
Phật.
Nam mô Tự Tại Vương Thần Thông
Phật.
Nam mô Bảo Hỏa Phật.
Nam mô Tịnh Nguyệt Tràng Xưng
Quang Minh Phật.
Nam mô Diệu Lạc Phật,
Nam mô Vô Lượng Tràng Phan Phật.
Nam mô Vô Lượng Phan Phật.
Nam mô Đại Quang Phổ Chiếu Phật.
Nam mô Bảo Tràng Phật
Nam mô Huệ Thượng Bồ Tát.
Nam mô Thường Bất Ly Thế Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam mô Phật Đà.
Nam mô Đạt Mạ.
Nam mô Tăng Già.
Lại quy y như vậy mười phương tận
hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện
xin chư Phật, chư Đại Bồ Tát, đem sức đại
từ đại bi, cứu hộ hết thảy chúng sanh
đang chịu khổ, dùng sức thần thông diệt
trừ ác nghiệp cho các chúng sanh, hoàn
toàn không đọa trở lại trong ba đường
khổ, đến được chỗ an vui thanh tịnh, sinh
ra chỗ nào cũng được thanh tịnh, công
đức đầy đủ, không thể cùng tận. Xả thân
thọ thân hằng gặp chư Phật, đồng với các
vị Đại Bồ Tát thành đẳng Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng lại gia tâm lực, lắng tai
nghe kỹ.
Tín Tướng Bồ Tát lại bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Lại có chúng sanh ở
trong hỏa thành tâm can bị thiêu đốt,
bốn cửa thành tuy mở, nhưng chạy đến
thì cửa liền tự đóng, chạy khắp đông tây
cũng không ra được, bị lửa thiêu sạch. Vì
nhân duyên gì mà mắc phải tội ấy?”
Phật đáp: “Vì đời trước làm người
thiêu đốt rừng núi, phá vỡ bờ đê, chiên
rán các thứ trứng gà vịt làm cho chúng
sanh bị thiêu, bị đốt mà chết nên phải
mắc tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh thường ở núi
Tuyết Sơn bị gió lạnh thổi, da thịt nức nở,
cầu chết không được, cầu sống không
được, khổ sở vô cùng không thể chịu nổi.
Vì nhân duyên gì mà mắc phải tội ấy?
Phật đáp: “Người ấy đời trước làm
giặc, đón đường bóc lột áo quần người
khác để tự tư dưỡng; mùa đông giá lạnh,
lột truồng hình người khác, làm cho họ
phải chết lạnh và lột da xẻ thịt trâu dê,
làm cho chúng sanh đau khổ vô lượng. Vì
nhân duyên ấy nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh thường ở trên
núi dao, rừng kiếm, rờ đụng vào đâu thì
liền bị cắt đứt đó, thân thể tay chân đều
bị chặt nát, đau đớn khổ sở, không thể
chịu nổi. Vì nhân duyên gì mà mắc phải
tội ấy?
Phật đáp: “Vì người ấy đời trước làm
nghề sát sinh, phanh thây xẻ thịt chúng
sanh, cắt xẻo bóc lột, cốt nhục chia lìa,
đầu mình tan rã, treo lên trên cao, cân
lường mà bán, hoặc treo sống mà bán đau
đớn vô cùng chúng sanh không thể chịu
nổi. Vì nhân duyên ác nghiệp ấy nên mắc
phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh tai mắt v.v... năm
căn không đủ. Vì nhân duyên gì mắc phải
tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước nuôi chim
bay chó chạy để đi săn bắn. Bắn chim bắn
thú, hoặc bắn bể đầu, hoặc bẫy đứt chân,
nhổ sống lông cánh, làm chúng sanh đau
khổ vô cùng không thể chịu nổi. Vì nhân
duyên ấy nên phải mắc tội như vậy”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời Kinh dạy như
vậy rất đáng sợ hãi. Cùng nhau chí tâm,
một lòng tha thiết, năm vóc sát đất, đầu
thành đảnh lễ nguyện vì hết thảy chúng
sanh trong mười phương, hoặc đã chịu
khổ, hoặc đang chịu khổ, hoặc sẽ chịu
khổ mà quy y thế gian Đại Từ Bi Phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Tịnh Quang Phật.
Nam mô Bảo Vương Phật.
Nam mô Thọ Căn Hoa Vương Phật.
Nam mô Duy Vệ Trang Nghiêm Phật.
Nam mô Khai Hóa Bồ Tát Phật.
Nam mô Kiến Vô Khủng Cụ Phật.
Nam mô Nhất Thừa Độ Phật.
Nam mô Độc Nội Phong Nghiêm
Vương Phật.
Nam mô Kim Cang Kiên Cường Tiêu
Phục Hoại Tán Phật.
Nam mô Bảo Hỏa Phật.
Nam mô Bảo Nguyệt Quang Minh
Phật.
Nam mô Hiền Tối Phật.
Nam mô Bảo Liên Hoa Bộ Phật.
Nam mô Hoại Ma La Võng Độc Bộ
Phật.
Nam mô Sư Tử Hống Lực Phật.
Nam mô Bi Tinh Tấn Phật.
Nam mô Kim Bảo Quang Minh Phật.
Nam mô Vô Lượng Tôn Phong Phật.
Nam mô Vô Lượng Tôn Ly Cấu
Vương Phật.
Nam mô Độc Thủ Phật.
Nam mô Dược Vương Bồ Tát.
Nam mô Dược Thượng Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận
hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện
xin Tam Bảo đem lòng đại từ, đại bi cứu
hộ hết thảy chúng sanh trong mười
phương khiến các chúng sanh hiện đang
chịu khổ liền được giải thoát; chúng sanh
sẽ chịu khổ hoàn toàn đoạn trừ phiền
não, rốt ráo không sa đọa trở lại trong ba
đường ác nữa.
Từ nay trở đi cho đến ngày thành
Phật, trừ sạch ba nghiệp chướng, diệt hết
năm sợ hãi; hoàn toàn đầy đủ công đức
trang nghiêm; nhiếp hóa hết thảy chúng
sanh hướng về Vô thượng đạo, thành bậc
Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng lại lắng lòng mà nghe:
Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật: “Bạch
Đức Thế Tôn! Lại có chúng sanh què trệt,
lưng cong, tay chân co quắp, không thể
cầm nắm , không thể đi đứng. Vì nhân
duyên gì mà mắc phải tội ấy?”
Phật đáp: “Vì đời trước làm người
độc ác, để binh khí giữa đường, đặt súng
đặt gươm, đào hầm đào hố, hãm hại
chúng sanh. Vì ác nghiệp ấy nên mắc
phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh bị các ngục tốt
trói buộc thân thể, gông cùm khổ ách,
không thể thoát được. Vì nhân duyên gì
mà mắc phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước người ấy chài
lưới chúng sanh, buộc nhốt lục súc, hoặc
làm chủ tể, quyền hành địa phương, cai
trị dân chúng, tham lam vơ vét, giam oan
người vô tội, lương thiện oán hận không
biết kêu ai. Vì ác nghiệp ấy nên mắc phải
tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh hoặc điên, hoặc
si, hoặc cuồng, hoặc sợ, không phân biệt
được tốt xấu. Vì nhân duyên gì mà mắc
phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước làm người
uống rượu say sưa, loạn trí loạn tâm,
phạm ba mươi sáu lỗi nên đọa làm người
ngu si, cũng như người say không phân
biệt được tốt xấu, thượng hạ tôn ty. Vì ác
nghiệp ấy nên mắc phải tội như vậy”.
- Lại có chúng sanh thân lùn, hình
nhỏ, âm tạng rất lớn, thả xuống thì thân
đau, phải vắt ra sau lưng mà đi, đi đứng
nằm ngồi đều bị trở ngại. Vì nhân duyên
gì mắc phải tội ấy?
Phật đáp: “Vì đời trước buôn bán
vàng ngọc, khen vật báu của mình, chê
vật báu của người, thay đổi thăng đấu,
vặn cân bẻ móc, (gian lận thước tấc). Vì ác
nghiệp ấy nên mắc phải tội như vậy”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời Phật dạy như
vậy rất đáng sợ hãi. Cùng nhau nhất tâm,
một lòng tha thiết, năm vóc sát đất, đầu
thành đảnh lễ nguyện vì hết thảy chúng
sanh đã chịu khổ; hết thảy chúng sanh sẽ
phải chịu khổ, hết thảy chúng sanh hiện
đang chịu khổ trong sáu đường; và
nguyện vì cha mẹ, sư trưởng, tín thí đàn
việt, thiện ác tri thức, rộng ra cho đến
hết thảy chúng sanh khắp trong mười
phương mà quy y Thế gian Đại Từ Bi phụ:
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Vô Số Tinh Tấn Hưng
Phong Phật.
Nam mô Vô Ngôn Thắng Phật.
Nam mô Vô Ngu Phong Phật.
Nam mô Nguyệt Anh Phong Phật.
Nam mô Vô Dị Quang Phong Phật.
Nam mô Nghịch Không Quang Minh
Phật.
Nam mô Tối Thanh Tịnh Vô Lượng
Phan Phật.
Nam mô Hiếu Đế Trú Duy Vương
Phật.
Nam mô Thành Tựu Nhất Thế Chư
Sát Phong Phật.
Nam mô Tịnh Huệ Đức Phong Phật.
Nam mô Tịnh Luân Phan Phật.
Nam mô Lưu Ly Quang Tối Phong
Phật.
Nam mô Bảo Đức Bộ Phật.
Nam mô Tối Thanh Tịnh Đức Bảo
Trú Phật.
Nam mô Độ Bảo Quang Minh Tháp
Phật.
Nam mô Vô Lượng Tàm Quý Kim Tối
Phong Phật.
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Nam mô Phổ Hiền Vương Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lại quy y như vậy mười tận hư
không giới hết thảy Tam Bảo.
Đệ tử chúng con tên... ngày nay
mong nhờ Phật lực, Pháp lực, Bồ Tát lực,
nguyện vì hết thảy chúng sanh mà đảnh
lễ quy y cầu xin sám hối.
Những chúng sanh đã chịu khổ rồi,
xin nhờ sức đại từ bi của chư Phật, chư
Bồ Tát, liền được giải thoát.
Những chúng sanh chưa chịu khổ, từ
nay trở đi cho đến ngày thành đạo, rốt
ráo không đọa trở lại trong các đường ác,
xa lìa tám nạn khổ, bẩm thọ tám phước
sinh; được các căn lành, thành tựu bình
đẳng, đầy đủ trí huệ, thành tựu biện tài,
thanh tịnh tự tại, cùng với chư Phật
thành bậc Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nên biết dụng tâm, lắng
lòng mà nghe.
Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn, lại có chúng sanh,
hình trạng rất xấu, thân đen như mực,
hai tai lại xanh, hai vai nổi lên, mặt
phẳng, mũi dẹp, mắt đỏ vàng ngầu, răng
nướu thưa sún, hơi miệng tanh hôi, vế
ngắn và ung thủng; bụng lớn, lưng nhỏ,
tay chân co quắp; xương sườn, xương
sống nổi lên, tốn vải, ăn nhiều; ghẻ dữ
tanh hôi, máu mủ nhơ nhớp; bệnh thủy
thủng, càn tiêu, phung hủi ung thư, bao
nhiêu điều ác độc hung dữ đều dồn vào
thân. Dầu muốn thân cận, người không
để ý. Nếu người khác làm tội, vô cớ mình
cũng liên can mang họa. Hằng không
được thấy Phật, nghe Pháp, không biết Bồ
Tát không biết Thánh Hiền. Ra vào nơi
đau khổ, không bao giờ cùng. Vì nhân
duyên gì mắc phải tội ấy?”
Phật dạy: “Vì đời trước làm con bất
hiếu với cha mẹ; làm tôi không trung
chánh với vua, làm người trên không
thương kẻ dưới, làm người dưới không
biết kính kẻ trên, không thành thật,
không thủ tín với bạn bè, không nhân
nghĩa với làng xóm; không chức tước với
triều đình; không đạo đức trong sự xử
đoán, không có độ lượng mà lòng dạ đảo
điên, sát hại quần thần; khinh khi tôn
trưởng, bán nước buôn dân, phá thành
phá lũy, cướp giựt trộm cắp, ác nghiệp vô
lượng.
Lại khen mình chê người, xâm lấn
già nua, lấn hiếp cô độc; báng bổ người
hiền, khinh mạn sư trưởng; khi dối kẻ hạ
tiện.
Tóm lại là phạm hết thảy tội. Vì
nhân duyên ấy nên mắc phải ác báo, tội
nghiệp như vậy”.
Lúc bấy giờ, những người bị tội nghe
Phật dạy như vậy, khóc lóc động địa, nước
mắt trào như mưa, bèn bạch Phật rằng:
“Nguyện xin Thế Tôn sống mãi ở đời,
thuyết pháp giáo hóa cho chúng con
mong được giải thoát”.
Phật đáp: “Nếu ta sống mãi ở mãi ở
đời, những người bạc phước, không trồng
căn lành. Họ bảo Ta còn sống mà không
lo nghĩ đến vô thường, tự do tạo ra vô
lượng tội ác, sau ăn năn không kịp.
Thiện nam tử ôi! Ví như con thơ, mẹ
thường ở bên mình thì con không nghĩ
đến sự gặp mẹ là khó. Lúc nào mẹ đi
vắng, con mới liền sinh tâm nhớ tưởng,
khao khát luyến mẹ. Lúc ấy mẹ trở lại con
mới vui mừng.
Thiện nam tử ôi! Ta nay cũng như
vậy. Ta biết chúng sanh không tìm cầu sự
thật, thường trú chơn tâm, cho nên Ta
nhập Niết bàn.
Lúc bấy giờ, Phật đối trước những
chúng sanh đang chịu tội đó mà nói bài
kệ rằng:
Nước chảy không thường đầy,
Lửa mạnh không thường đốt,
Mặt trời mọc rồi lặn,
Mặt trăng tròn rồi khuyết,
Sự tôn trọng giàu sang,
Càng vô thường hơn nữa,
Nghĩ lại phải siêng năng,
Đảnh lễ ngôi Tam Bảo.
Lúc bấy giờ, Phật nói lời kệ ấy rồi,
các người bị tội kia thảy đều buồn rầu mà
bạch Phật rằng: “Hết thảy chúng sanh
làm những việc lành gì mà xa lìa được
những tội khổ ấy?”
Phật dạy: “Này thiện nam tử! Phải
siêng năng hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự
sư trưởng, quy y Tam Bảo, siêng tu hạnh
bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định, trí huệ, từ bi, hỷ xả, xem kẻ oán
người thân như nhau, không có thân sơ,
không khinh người già nua, cô quả, không
khinh kẻ nghèo hèn, ủng hộ người như
giúp đỡ mình, không có tâm ác đối với
người.
Nếu các người hay tu hành được như
vậy thời cũng đã là báo được ơn chư Phật;
hằng xa lìa ba đường ác, không còn đau
khổ nữa”.
Phật dạy kinh này rồi, các vị đại Bồ
Tát liền được quả Vô thượng Bồ đề. Các
hàng Thanh Văn, Duyên Giác liền chứng
được lục thông, tam minh và tám pháp
giải thoát.
Còn các đại chúng khác đều được
pháp nhãn tịnh.
Nếu có chúng sanh nào, nghe được
kinh này thì không đọa vào ba đường ác,
và không mắc phải tám nạn, địa ngục
trống rỗng, thống khổ không còn.
Tín Tướng Bồ Tát bạch Phật rằng:
“Bạch Đức Thế Tôn! Kinh này gọi là
kinh gì? Bồ Tát Ma ha tát phải phụng trì
bằng cách nào?”
Phật bảo Tín Tướng Bồ Tát: “Thiện
nam tử! Kinh này gọi là “Báo ứng giáo hóa
Địa ngục kinh”. Các ngươi nên phụng trì,
và lưu truyền cùng khắp, công đức vô
lượng”.
Bấy giờ, đại chúng nghe Phật dạy lời
ấy rồi hết lòng vui mừng, đảnh lễ vâng lời
làm theo.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời Phật dạy như
vậy, rất đáng sợ hãi, sinh tâm từ bi,
nương nhờ thần lực của chư Phật, tu đạo
Bồ Tát nhớ địa ngục khổ, phát tâm Bồ đề,
vì hết thảy chúng sanh hiện đang chịu
khổ, ở đường địa ngục, hết thảy chúng
sanh hiện đang chịu khổ ở đường ngạ
quỷ, hết thảy chúng sanh hiện đang chịu
khổ ở đường súc sinh; rộng ra cho đến
hết thảy chúng sanh cùng khắp mười
phương hiện đang chịu khổ ở trong sáu
đường; nhất tâm nhất ý, vì những chúng
sanh ấy mà sám hối, khiến chúng sanh
được giải thoát.
Nếu đại chúng không siêng làm
phương tiện, chuyển họa thành phước,
thì ở trong mỗi mỗi địa ngục, đại chúng
đều có tội phần.
Cùng nhau chí tâm nghĩ đến cha mẹ,
sư trưởng, bà con thân thích, sẽ chịu khổ
báo về sau và cũng nghĩ đến tự thân đại
chúng hiện tại và vị lai cũng phải chịu
khổ báo như vậy. Cho nên đại chúng phải
cùng nhau nhất tâm tha thiết, năm vóc
sát đất, chí thành ân cần vận dụng tư
tưởng, nguyện xin một niệm cảm thấu
mười phương Phật; một lạy đoạn trừ vô
lượng tội khổ. Những chúng sanh đã chịu
khổ trong sáu đường, xin nhờ Phật lực,
Pháp lực, Hiền Thánh lực khiến các
chúng sanh ấy liền được giải thoát. Nếu
trong sáu đường chúng sanh nào chưa
chịu khổ, xin nhờ Phật lực, Pháp lực,
Hiền Thánh lực làm cho các chúng sanh
ấy vĩnh viễn đoạn trừ sáu đường đau khổ.
Từ nay trở đi rốt ráo không đọa trở lại
trong các đường ác; trừ ba nghiệp
chướng, tùy ý vãng sanh, diệt trừ năm
điều sợ hãi, tự tại giải thoát, siêng tu đạo
nghiệp, không thôi không nghỉ. Diệu
hạnh trang nghiêm quá Pháp Vân địa, vào
Kim cang tâm, thành đẳng Chánh giác.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng lại nhất tâm lưu ý, lắng
lòng mà nghe và suy nghĩ cho kỹ:
Kinh Tạp Tạng chép: Bấy giờ có một
con quỷ bạch với ngài Mục Liên rằng:
“Thân tôi hai vai có mắt, ngực có
mũi có miệng mà không có đầu. Vì nhân
duyên gì mắc phải tội ấy?”
Ngài Mục Liên đáp: “Đời trước ngươi
làm học trò nhà hàng thịt, khi giết trâu
bò thì ngươi vui mừng, lấy dây trói buộc
mà lôi kéo. Vì nhân duyên ấy nên mắc
phải tội như vậy. Đó là tội báo mới nụ
hoa, kết quả sẽ ở địa ngục”.
- Lại có một con quỷ khác bạch ngài
Mục Liên rằng: “Thân hình tôi như một
khối thịt, không có tay chân, tai, mắt,
mũi, lưỡi v.v... Thân thường bị trùng rúc
chim mổ, cắn rức mà ăn, đau đớn vô
cùng, không thể chịu nổi. Vì nhân duyên
gì mà mắc phải tội ấy?”
Ngài Mục Liên đáp: “Đời trước ngươi
cho người uống thuốc độc đọa thai, phá
sản khiến chúng sanh mạng sống không
hoàn toàn. Vì nhân duyên ấy nên mắc
phải tội như vậy?”
- Lại có một con quỷ bạch ngài Mục
Liên rằng: “Bụng tôi thật lớn, yết hầu như
kim. Cùng năm mãn kiếp không thể ăn
uống. Vì nhân duyên gì mà mắc phải tội
ấy?”
Ngài Mục Liên đáp: “Đời trước ngươi
làm chủ hàng xóm, tự ỷ mình hào quý, say
sưa tung hoành, khinh khi kẻ khác, cướp
giựt thức ăn uống của người làm cho đói
khát, khốn khổ hết thảy nhân dân. Vì
nhân duyên ấy nên mắc phải tội như vậy.
Đó là quả báo mới đơm hoa, nó sẽ kết quả
ở địa ngục”.
- Lại có một con quỷ bạch ngài Mục
Liên rằng: “Tôi một đời lại đây, có hai
vành sắt ở dưới hai nách, toàn thân cháy
rụi. Vì tội gì đến nỗi như thế?”
Ngài Mục Liên đáp: “Đời trước ngươi
chia bánh cho chúng, ngươi trộm lấy hai
cái, kẹp dưới hai nách. Vì nhân duyên ấy
nên mắc phải tội như vậy. Đó là tội mới
đơm hoa, kết quả sẽ ở địa ngục”.
- Lại có một con quỷ, bạch ngài Mục
Liên rằng: “Tôi thường lấy đồ tự bao bọc
đầu lại, sợ người đến giết, sinh tâm sợ
hãi. Vì tội gì đến nỗi như thế?”
Ngài Mục Liên đáp: “Đời trước ngươi
dâm phạm ngoại sắc, thường sợ người
thấy, hoặc sợ chồng con người bắt được
trói trăn, đánh giết, thường ôm lòng sợ
hãi, cho nên mắc phải tội này. Đó là tội
mới đơm hoa, nó sẽ kết quả ở địa ngục”.
Ngày nay đại chúng đồng nghiệp
trong đạo tràng nghe lời lời Kinh dạy, đâu
được không sợ hãi.
Từ vô thỉ trở lại cho đến ngày nay
chúng con cũng đã làm vô lượng tội ác
như thế. Những tội ấy đều do vì không có
tâm từ bi, ỷ mạnh hiếp yếu, tổn hại chúng
sanh, cho đến tội trộm cắp của người, mê
hoặc, vô đạo, nịnh hót bài báng người
hiền lành, gây biết bao tội lỗi.
Những tội báo như vậy ở trong địa
ngục, quyết phải chịu thống khổ trong ba
đường dữ.
Ngày nay chí tâm một lòng tha thiết,
năm vóc sát đất, đầu thành đảnh lễ, thay
thế cho hết thảy chúng sanh khắp mười
phương, đã chịu khổ báo trong sáu
đường, đang chịu khổ trong sáu đường
mà cầu xin sám hối.
Cũng nguyện xin thay thế cho cha
mẹ, sư trường và hết thảy bà con quyến
thuộc mà cầu xin sám hối và cũng tự vì
bản thân mà cầu xin sám hối.
Những tội đã làm, nguyện xin trừ
diệt hết. Những tội chưa làm, không dám
làm nữa.
Nguyện xin quy y Thế gian Đại Từ Bi
Phụ.
Nam mô Di Lặc Phật.
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Liên Hoa Tôn Phong Phật.
Nam mô Tịnh Bảo Hưng Phong Phật.
Nam mô Điện Đăng Phan Vương
Phật.
Nam mô Pháp Không Đăng Phật.
Nam mô Nhất Thế Chúng Đức Thành
Phật.
Nam mô Hiền Phan Tràng Vương
Phật.
Nam mô Nhất Thế Bảo Trí Sắc Trì
Phật.
Nam mô Đoạn Nghi Bạc Dục Trừ
Minh Phật.
Nam mô Ý Vô Khủng Cụ Oai Mao Bất
Thọ Phật.
Nam mô Sư Tử Phật.
Nam mô Danh Xưng Viễn Văn Phật.
Nam mô Pháp Danh Hiệu Phật.
Nam mô Phụng Pháp Phật.
Nam mô Pháp Tràng Phật.
Nam mô Tu Di Đăng Quang Minh
Phật.
Nam mô Bảo Tạng Trang Nghiêm
Phật.
Nam mô Chiên Đàn Ma Ni Quang
Phật.
Nam mô Kim Hải Tự Tại vương Phật.
Nam mô Đại Bi Quang Minh Vương
Phật.
Nam mô Ưu Bát La Liên Hoa Thắng
Phật.
Nam mô Liên Hoa Tu Trang Nghiêm
Vương Phật.
Nam mô Kim Cang Kiên Cường Tự
Tại Vương Phật.
Nam mô Thù Thắng Nguyệt Vương
Phật.
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Vương
Phật.
Nam mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
Nam mô Bất Hưu Tức Bồ Tát.
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát.
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lại quy y như vậy mười phương tận
hư không giới hết thảy Tam Bảo, nguyện
xin Tam bảo rũ lòng đại từ đại bi cứu hộ
hết thảy chúng sanh, hiện đang chịu khổ,
và sẽ chịu khổ trong sáu đường, khiến
các chúng sanh ấy liền được giải thoát,
đem sức thần thông diệt trừ ba đường ác
và nghiệp địa ngục, khiến các chúng sanh
ấy từ nay trở đi cho đến ngày thành Phật
hoàn toàn không đọa trở lại trong đường
ác, xả thân khổ báo, được thân Kim cang,
tứ vô lượng tâm, lục ba la mật thường
được hiện tiền; tứ vô ngại biện, sáu sức
thần thông như ý tự tại, dõng mãnh tinh
tấn, không thôi không nghỉ, cho đến khi
mãn hạnh Thập Địa, trở lại độ thoát hết
thảy chúng sanh.
TỪ BI ÐẠO TRÀNG SÁM PHÁP
QUYỂN THỨ BA
HẾT

CUỐI QUYỂN BA
Lương Hoàng Bảo Sám.
Võ Đế bi đề.
Xà thần sổ trượng nhiễu đơn trì.
Lưỡng nhãn hỏa quang phi.
Khải cáo Từ Bi.
Độ thoát xuất A tỳ.
Lương Hoàng Bảo Sám,
Vạn đức hồng danh,
Linh văn tam quyển tối hoằng thâm,
Tự tự miễn tai truân,
Đảnh lễ Phật danh,
Tiêu tai bảo an ninh.
Nam Mô Phát Quang Địa Bồ Tát Ma Ha
Tát. (3 lần).









Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét